Danh mục: Khoa học

  • Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời ẩn chứa những bí mật gì?

    Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời có gì bí ẩn?

    Hành tinh nào lớn nhất trong hệ mặt trời? Bên trong có gì khác biệt với Trái Đất? Con người có thể sinh sống ở đó không? Tất cả những bỉ ẩn của hành tình lớn nhất trong hệ mặt trời sẽ được giải đáp trong bài viết dưới đây.

    Hành tinh nào lớn nhất trong hệ mặt trời?

    Sở hữu kích thước đường kính 142.796 km, Sao Mộc chính là hành tinh lớn nhất hệ mặt trời. Bên cạnh đó về trọng lượng và thể tích Sao Mộc cũng đứng top 1 trong danh sách 8 hành tinh xoay quanh mặt mời. Nó có trọng lượng gấp 318 lần Trái Đất và thể tích gấp 1.321 lần Trái Đất.

    Sao Mộc được phát hiện lần đầu tiên bởi các nhà thiên văn thời La Mã cổ đại thông qua việc quan sát bầu trời bằng mắt thường. Gắn với thần thoại và tín ngưỡng tôn giáo của nhiều nền văn hóa, Sao Mộc được người La Mã tôn kính đặt theo tên của thủ lĩnh các vị thần – Jupiter.

    Sao Mộc là hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời nó có thể chứa hơn 1300 Trái Đất bên trong

    Sao Mộc là hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời nó có thể chứa hơn 1300 Trái Đất bên trong

    >>>Click ngay: Khám phá vũ trụ các hành tinh trong hệ mặt trời

    Trong thần thoại Hy Lạp cổ đại thần Jupiter hay còn gọi là thần Zues chính là chúa tể của các vị thần, người nắm giữ và điều khiển sức mạnh của sấm sét. Được đặt theo tên của đấng quyền năng tối cao nên người ta còn ví Sao Mộc như chúa tể của các hành tinh trong hệ mặt trời.

    Hành tinh lớn nhất hệ mặt trời có gì bí ẩn?

    Là quả cầu khí khổng lồ

    Khác với những hành tinh trong hệ mặt trời đa số được cấu tạo bằng các loại vật chất rắn, hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời chính là một quả cầu khí khổng lồ. Sao Mộc không có cái gọi là bề mặt theo cách mà chúng ta hay tưởng tượng đến những bề mặt rắn, chứa đầy đất đá. Sao Mộc là những khối gas

    Từ thuở sơ khai các vật chất cấu tạo nên lớp vỏ Sao Mộc chỉ gồm 2 nguyên tố chính là Hydro là Heli cùng một phần nhỏ các khí khác như Metan, Amoniac. Bên trong lớp vỏ khí là lõi chứa Hydro có đặc tính như kim loại dày đặc. Ở giữa lõi và vỏ của Sao Mộc là lớp Hydro lỏng có thể chuyển sang dạng khí.

    Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời Sao Mộc là quả cầu khí khổng lồ

    Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời Sao Mộc là quả cầu khí khổng lồ

    Càng đi sâu vào trung tâm Sao Mộc, nhiệt độ sẽ càng tăng lên, và áp suất cũng sẽ càng lớn. Vùng lõi Sao Mộc có áp suất khoảng 2 triệu bar và nhiệt độ tương tự như nhiệt độ của mặt trời. Vì vậy đến hiện tại cũng chưa có công nghệ nào có thể xác định chính xác những nguyên tố trong lõi của hành tinh lớn nhất hệ mặt trời.

    Những đặc điểm cấu tạo khí quyển của Sao Mộc khá giống so với mặt trời. Nếu kích thước Sao Mộc lớn hơn 80 lần so với hiện tại, nó sẽ trở thành một ngôi sao có thể tự phát sáng chứ không phải là một hành tinh như hiện tại.

    Hành tinh có từ trường cực mạnh

    So với tất cả các hành tinh trong hệ mặt trời, Sao Mộc chính là hành tinh có từ trường mạnh nhất. Các nhà khoa học ước tính từ trường tại Sao Mộc có thể lớn gấp 20.000 lần từ trường ở Trái Đất.

    Từ trường tại sao mộc cực mạnh, khoảng hơn 20.000 lần so với Trái Đất

    Từ trường tại Sao Mộc cực mạnh, khoảng hơn 20.000 lần so với Trái Đất

    >>>Xem thêm: Sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào?

    Từ trường trên Sao Mộc thể “tóm” các điện tích trong một vành đai của các electron và những hạt mang điện khác, tác động lên những vệ tinh và những vành đai với mức độ 1000 lần vượt quá sức chịu đựng của con người. Thậm chí có thể gây thiệt hại đến những tàu thăm dò được bảo vệ kỹ càng như tàu thăm dò Galileo của NASA.

    Nguyên nhân dẫn đến sự mạnh bất thường của từ trường trên Sao Mộc chính là do hành tinh này có tốc độ quay quanh trục nhanh nhất trong các hành tinh quay quanh mặt trời. Điều này làm cho lớp Hydro dưới áp suất cao chuyển sang dạng lỏng sẽ cuộn xoáy, từ đó tạo ra từ trường cực mạnh.

    Vết đỏ lớn – Great Red Spot

    Trong quá trình khám phá những bí ẩn của hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời có lẽ phát hiện đáng chú ý nhất chính là “Vết đỏ lớn”. Không xác định được chính xác thời gian xuất hiện của “Vết đỏ lớn” tuy nhiên các nhà khoa học cho rằng rất có khả năng nó đã tồn tại từ cách đây hơn 300 năm.

    Vệt đỏ lớn tồn tại hơn 300 năm trên Sao Mộc

    Vệt đỏ lớn (Great Red Spot) tồn tại hơn 300 năm trên Sao Mộc

    Vết đỏ lớn thực chất là một cơn bão hình Oval quay ngược chiều với chiều tự quay của Sao Mộc. Đường kính của nó lớn đến mức có thể bao phủ 2 – 3 hành tinh bằng Trái Đất. Tốc độ xoay tại rìa của cơn bão có thể đạt 360 Km/h và xoay ngược chiều so với tâm bão.

    Các hình ảnh theo dõi được từ vệ tinh cho thấy những cơn bão có hình dạng như “Vết đỏ lớn” cũng chính là đặc trưng của khí quyển của hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời. Màu sắc của các cơn bão cũng cho biết nhiệt độ của chúng. Các cơn bão màu trắng sẽ có nhiệt độ thấp còn cơn bão có màu nâu sẽ ấm và nóng hơn. Cơn bão trên Sao Mộc có thể tồn tại từ vài giờ đến hàng thế kỷ.

    Hành tinh có nhiều vệ tinh nhất

    Tính đến thời điểm năm 2018, hành tinh lớn nhất hệ mặt trời – Sao Mộc – có đến 79 vệ tinh tự nhiên. Là hành có nhiều vệ tinh nhất trong hệ mặt trời. Các vệ tinh tự nhiên của Sao Mộc được chia thành 7 nhóm. Trong đó có 63 vệ tinh có đường kính bé hơn 10 km, 5 vệ tinh không quan sát được. Bốn vệ tinh lớn nhất được khám phá bởi Galileo Galilei vào thế kỷ XVII và được liệt chung vào một nhóm có tên: Io, Europa, Ganymede, Callisto.

    Chức năng bình luận bị tắt ở Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời có gì bí ẩn?
  • Sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào?

    Sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào?

    Chúng ta đang sống trên trái đất, cho đến ngày nay đây là hành tinh duy nhất tìm thấy sự sống trong hệ mặt trời. Vậy có bao giờ bạn thắc mắc về sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào? Đâu là tận cùng của vũ trụ?

    Sự hình thành vũ trụ

    Hiện nay nguồn gốc sự hình thành của vũ trụ được các nhà khoa học giải thích đó chính là kết quả của một vụ nổ lớn (vụ nổ bigbang) khiến cho không gian dãn nở không ngừng hình thành vũ trụ. Các nhà khoa học đã đưa ra lý thuyết về sự dãn nở để giải thích cho những điểm chưa xác định trong việc hình thành vũ trụ.

    Theo lý thuyết này, vũ trụ bắt đầu từ không gian rỗng như một quả bong bóng. Từ kích cỡ nhỏ hơn hàng tỉ lần kích cỡ của một nguyên tử, nhờ một siêu lực, vũ trụ bắt đầu dãn nở với tốc độ nhanh hơn tốc độ ánh sáng rất nhiều lần. khi đạt kích cỡ của một quả cam, bên trong vũ trụ có nhiệt độ rất lớn xấp xỉ 1032 độ C. Nghĩa là các hạt trong đó chuyển động với vận tốc rất lớn và những vật chất chuẩn bị hình thành sẽ bị phá vỡ liên tục bởi sự va đập giữa các hạt có trong vũ trụ, vì vậy tạo ra rất nhiều loại hạt.

    Vụ nổ lớn (Big-Bang) dẫn đến sự hình thành của vũ trụ và hệ mặt trời

    >>>Xem thêm: Chính xác mặt trời mọc hướng nào? Vì sao chu kỳ đó lặp đi lặp lại?

    Khi quá trình dãn nỡ chậm lại, vũ trụ dần lạnh đi, các loại vật chất có thể dễ dàng kết hợp với nhau hơn tạo ra vật chất. Sự dãn nở ban đầu của vũ trụ chỉ tạo ra 2 loại nguyên tố nhẹ là Heli và Hydro. Các hành tinh ban đầu được hình thành trong vũ trụ cũng chứa chủ yếu là 2 loại khí này.

    Bên cạnh đó quá trình dãn nở vũ trụ còn hình thành vô số vì sao phát sáng có kích thước lớn hơn mặt trời rất nhiều lần. Các vì sao liên tục hình thành và nổ tung tích tụ cho quá trình hình thành các nguyên tố nặng. Các nhà khoa học gọi đó là thuật giả kim của các vì sao.

    Cho đến ngày nay với những công nghệ khoa học điện đại dùng để quan sát vũ trụ, các nhà khoa học ước tính đường kính của vũ trụ có thể lên đến 28 tỷ Parsec (khoảng 91 tỷ năm ánh sáng). Một số giả thiết đưa ra có thể không gian vũ trụ là vô tận.

    Sự hình thành hệ mặt trời

    Sau vụ khi vụ nổ Big Bang diễn ra được 1 tỷ năm, các đám mấy khí He và H2 được hình thành. Dưới sự tác dụng của lực hấp dẫn, các đám mây bắt đầu suy sụp và co thắt lại, trở nên dẹt đi. Khối lượng vật chất suy sụp tích tụ chủ yếu tại tâm của đám mây đến mức có thể khởi phát các phản ứng hạt nhân và trở thành mặt trời.

    Ở cách xa tâm của đám mây, khí và bụi ít hơn sẽ chuyển động xung quanh mặt trời và ngưng tụ lại, tạo thành các hành tinh và tiểu hành tinh. Phần khí loãng xung quanh các hành tinh cũng dần ngưng tụ, tạo nên các vệ tinh quay xung quanh hành tinh. Cứ như vậy hệ mặt trời dần dần được tạo thành.

    Hệ mặt trời được hình thành từ sự suy sụp của đám mây bụi khí

    >>>Click ngay: Khám phá vũ trụ: Các hành tinh trong hệ mặt trời

    Trong vũ trụ có rất nhiều hệ mặt trời đồng thời tồn tại, hệ mặt trời mà chúng ta đang sống thuộc thế hệ thứ 3.

    Cấu tạo của hệ mặt trời

    Hệ mặt trời được cấu tạo bao gồm mặt trời và 8 hành tinh chính xoay xung quanh nó theo quỹ đạo hình elip theo thứ tự lần lượt từ trung tâm ra ngoài là Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh, Hải vương tinh. Trừ Thủy tinh và Kim tinh, các hành tinh khác trong hệ mặt trời đều đó một hay nhiều vệ tinh quay quanh.

    Trong hệ mặt trời còn có các hành tinh lùn, các tiểu hành tinh với kích thước đường kính từ vài chục đến vài trăm Kilomet.

    Kích thước của các hành tinh trong hệ mặt trời

    Các hành tình trong hệ mặt trời cách xa nhau và có kích thước không đồng nhất. Dưới đây là kích thước đường kính của các hành tinh chính trong hệ mặt trời

    1. Thủy tinh: 4.878 km
    2. Kim tinh: 12.104 km
    3. Trái Đất: 12.756 km
    4. Hỏa tinh: 6.787 km
    5. Mộc tinh: 142.796 km
    6. Thổ tinh: 120.660 km
    7. Thiên Vương tinh: 51.118 km
    8. Hải Vương tinh: 48.600 km

    Trong 8 hành tinh chính quay quanh mặt trời, Thủy tinh là hành tinh nhỏ nhất trong hệ mặt trời, kích thước đường kính của nó bé hơn Trái Đất khoảng 3 lần. Đây cũng là hành tinh gần mặt trời nhất.

    Hành tinh lớn nhất trong hệ mặt trời là Mộc tinh, đường kính của nó lớn gấp 10 lần Trái Đất. Mặc dù lớn như vậy nhưng kích thước của nó so với mặt trời cũng không đáng để nhắc đến. Chỉ bằng 0,1 lần bán kính của mặt trời.

    Chức năng bình luận bị tắt ở Sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào?
  • Tại sao có ngày nhuận? Những điều thú vị xoay quanh ngày nhuận 29/2

    Khi xem lịch có bao giờ bạn thắc mắc “Tại sao có ngày nhuận?” và ngày đó sao lại rơi vào ngày 29/2 mà không phải là các ngày khác trong năm?

    Sẽ không khó bắt gặp những tin giật gân xảy ra vào tháng 2, chẳng hạn như: “Ngày mai 29/2 Taylor Swift sẽ đến lưu diễn tại Việt Nam và miễn phí vé xem” , “Facebook sẽ đóng cửa vào các ngày 29/2”,… Đây chỉ là lời đùa, tuy nhiên nếu cuộc sống quá bận rộn không để ý hiện tại là tháng 2 bình thường chỉ có 28 ngày, rất nhiều người sẽ tin là thật. Tất cả những chuyện này nguyên nhân cũng do ngày nhuận 4 năm mới có 1 lần ngày 29/2.

    Tại sao có ngày nhuận?

    Tất cả mọi người đều nghĩ 1 năm có 365 ngày. Nhưng thực tế một năm sẽ có nhiều hơn 365 ngày, các nhà làm lịch đã tính toán và làm tròn một năm có 365 ngày và 6 giờ. Cộng dồn 4 năm liên tiếp vào với nhau sẽ dư ra 1 ngày chính là ngày nhuận và được thêm vào tháng 2. Đây cũng là lý do tại sao có ngày nhuận 29/2.

    Tại sao ngày nhuận lại rơi vào 29/2 mà không phải là ngày khác?

    Để giải thích câu hỏi đặt ra trước tiên chúng ta cần đi tìm hiểu tại sao tháng 2 lại chỉ có 28 ngày trong khi các tháng khác có 30 hoặc 31 ngày.

    Trong thời đại của đế chế La Mã dưới sự cai trị của hoàng đế Julius Caesar. Một năm có 365 ngày và cũng được chia làm 12 tháng tuy nhiên cách gọi không giống như bây giờ (tháng 1, tháng 2, tháng 3,…).

    Theo như quy định ban đầu, các tháng chẵn sẽ có 30 ngày và các tháng lẻ có 31 ngày. Tuy nhiên như vậy một năm sẽ có 366 ngày và 1 ngày bị dư ra. Nhưng việc quyết định lựa chọn bớt đi ngày nào khiến Julius và các nhà thiên văn phải đắn đo suy nghĩ.

    Luật La Mã thời đó quy định tháng 2 là tháng hành quyết, tất cả các phạm nhân sẽ bị xử tử trong tháng này. Mọi người cũng xem tháng 2 là tháng xui xẻo, không may mắn. Sau khi thảo luận Julius đã quyết định nếu phải lựa chọn bớt đi một ngày trong năm thì tháng 2 là tốt nhất. Vì vậy số ngày của tháng 2 theo lịch Julius là 29 ngày.

    Chân dung Julius Caesar

    Chân dung Julius Caesar

    >>>>Xem thêm: Năm nhuận là gì? Tại sao lại có năm nhuận?

    Sau khi Julius thoái vị, con trai ông là Augustus Caesar lên kế vị. Khi thấy tháng sinh của mình (tháng 8) chỉ có 30 ngày trong khi của cha mình là July (tháng) có 31 ngày. Để thể hiện quyền uy và tham vọng của mình cũng giống cha mình, Augustus đã quyết định lấy 1 ngày trong tháng 2 bù vào tháng 8 cho đủ 31 ngày và đặt tên tháng này August.

    Sau khi sửa xong xuất hiện một vấn đề là 3 tháng liên tiếp đều có 31 ngày là tháng 7, 8, 9. Augustus lại quyết định lấy đi 1 ngày tháng 9 bù vào tháng 10 và 1 ngày tháng 10 bù vào tháng 11. Do đó số ngày trong các tháng dương lịch hiện tại bị xáo trộn, tháng 1, 3, 5, 7, 8, 10, 12 có 31 ngày, tháng 4, 6, 9, 11 có 30 ngày và riêng tháng 2 có 28 ngày.

    Đến năm 1582 lịch Gregorius hay thường gọi là Tây lịch, Dương lịch, Công lịch của Giáo hoàng Grêgôriô XIII được công bố và áp dụng cho đến hiện tại, quy định cứ 4 năm sẽ có một ngày nhuận được cộng vào cuối tháng 2, đó là ngày 29/2.

    Những điều thú vị xoay quanh ngày nhuận 29/2

    Vì là ngày đặc biệt xuất hiện theo chu kỳ 4 năm nên trên sẽ có rất nhiều điều thú vị xoay quanh ngày nhuận 29/2.

    Ngày đàn ông được phụ nữ cầu hôn

    Tại Scotland nếu bạn từ chối lời cầu hôn của một cô gái vào ngày 29/2 bạn sẽ phải tặng lại một lễ vật gì đó cho cô gái để tạ lỗi. Lễ vật có thể là một tấm áo lụa hoặc vải để may váy dành cho phụ nữ.

    Ngày nam giới được phụ nữ cầu hôn

    >>>Xem thêm: Sinh con năm nhuận có tốt không?

    Ở đất nước Scotland ngày 29/2 được xem là ngày phụ nữ cầu hôn đàn ông. Ngày truyền thống được bắt nguồn từ truyền thuyết sau khi thánh Bridget than phiền với thánh Patrick về việc phụ nữ phải chờ đợi mỏi mòn cho đến khi nhận được lời cầu hôn của đàn ông, thánh Patrick đã đưa ra giải pháp là chọn ngày 29/2 làm ngày phụ nữ có thể cầu hôn nam giới.

    Trong ngày này người phụ nữ có thể có thể tỏ tình, cầu hôn với bất cứ người đàn ông nào mình yêu mà không cần phải lo lắng bị mọi người dị nghị.

    Sinh nhật ngày 29/2

    Phải chờ đợi đến 4 năm mới có thể tổ chức sinh nhật 1 lần là quá lâu. Do đó những người sinh vào ngày 29/2 được gọi là “leaper” có cơ hội lựa chọn ngày tổ chức sinh nhật là 28/2 hoặc 2/3.

    Theo ước tính, trên thế giới có khoảng 4,1 triệu người có sinh nhật ngày 29/2. Nếu được sinh vào ngày này thì bạn quả là người may mắn vì cơ hội chỉ là 1/1461.

    Chức năng bình luận bị tắt ở Tại sao có ngày nhuận? Những điều thú vị xoay quanh ngày nhuận 29/2
  • Năm nhuận là gì? Tại sao lại có năm nhuận?

    Để tránh sai lệch về mùa vụ, năm nhuận được quy ước từ năm 45 TCN tuy nhiên phải đến thế kỉ thứ XVI khi lịch Gregorius ra đời và trở thành lịch tiêu chuẩn của thế giới, mọi người mới biết đến năm nhuận. Vậy năm nhuận là gì và tại sao lại có năm nhuận?

    Năm nhuận là gì?

    Hiện tại các nước trên thế giới chủ yếu sử dụng  dương lịch tuy nhiên vẫn có một số nước sử dụng âm lịch hoặc song song cả 2 loại lịch. Dù là lịch nào đi chăng nữa thì vẫn phải có năm nhuận nhằm đảm bảo sự lặp lại chính xác và trùng khớp của thời tiết và mùa vụ.

    Theo như dương lịch chúng ta đang sử dụng hiện nay, năm nhuận là năm có dư ra một ngày và ngày đó là ngày 29/2. Tháng 2 của những năm không nhuận chỉ có 28 ngày.

    Đối với âm lịch năm nhuận là năm có dư ra 1 tháng và tháng đó không cố định, được điều chỉnh sao cho phù hợp qua các năm.

    Tại sao lại có năm nhuận và năm nhuận có bao nhiêu ngày?

    Dương lịch là lịch được tính theo chu kỳ quay của trái đất quanh mặt trời. Theo dương lịch, một năm chính là một chu kỳ quay quanh mặt trời của trái và có 365 ngày. Tuy nhiên thực tế để hoàn thành chu kỳ đó, trái đất cần phải mất 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây. Phần dư ra được cộng dồn cứ 4 năm 1 lần trở thành một ngày và được thêm vào lịch tháng 2 (ngày 29 tháng 2), năm đó được gọi là năm nhuận. Vì vậy năm nhuận sẽ có 366 ngày.

    Năm nhuận có bao nhiêu ngày?

    >>>>Xem thêm: Tại sao có ngày nhuận? và những điều thú vị xoay quanh ngày này

    Trong khi dương lịch 4 năm mới có 1 năm nhuận thì âm lịch chỉ cần 3 năm. Vì tính theo chu kì quay của mặt trăng quanh trái đất nên mỗi tháng trong âm lịch trung bình chỉ có 29,5 ngày và 1 năm có 354 ngày. So với dương lịch sẽ ngắn hơn 11 ngày. Do vậy cứ sau 3 năm phải bổ sung thêm 1 tháng vào để đảm bảo sự chệnh lệch giữa âm lịch và dương lịch không quá lớn. Năm nhuận trong âm lịch sẽ có 1 tháng được lặp lại. (2 tháng 1 hoặc 2 tháng 2,…)

    Rút ngắn nhưng không có nghĩa là hoàn toàn tương đồng, âm lịch vẫn chậm hơn dương lịch sau khi được điều chỉnh, nếu không khắc phục sẽ ngày càng tạo ra khoảng cách lớn. Do đó cứ 19 năm sẽ có 2 năm nhuận cách nhau chỉ 2 năm.

    Năm nhuận có bao nhiêu ngày theo âm lịch còn phụ phuộc vào tháng sẽ lặp lại.

    • Nếu tháng lặp lại có 30 ngày thì năm nhuận sẽ có 354 + 30 = 384 ngày.
    • Nếu tháng lặp lại có 28 ngày thì năm nhuận sẽ có 354 + 28 = 382 ngày.

    Cách tính năm nhuận

    Tính năm nhuận dương lịch

    Theo dương lịch cứ 4 năm sẽ có 1 năm nhuận, do đó để tính năm nhuận ta chỉ cần lấy số năm chia cho 4. Nếu không dư thì năm đó là năm nhuận, ngược lại không phải là năm nhuận. Tuy nhiên cách tính này vẫn chưa hoàn toàn chính xác.

    Cách tính năm nhuận chi tiết và chính xác nhất

    Cách tính năm nhuận chi tiết và chính xác nhất

    Khi tính năm nhuận, các nhà làm lịch đã làm tròn số giờ dư ra trong mỗi chu kì quay của trái đất quanh mặt trời. Thực tế là 365 ngày 5 giờ 48 phút 46 giây chứ không phải 365 ngày 6 giờ. Với cách làm tròn của các nhà làm lịch, mỗi năm sẽ bị dư ra 11 phút 14 giây. Con số này là rất bé tuy nhiên sau 100 năm sẽ bị dư ra gần 1123 phút. Sau 400 năm sẽ dư ra gần 3 ngày. Vì lý do này nên phải thêm những quy tắc để tính năm nhuận cho các trường hợp ngoại lệ.

    Quy tắc tính năm nhuận chính xác nhất theo dương lịch như sau:

    • Các năm chia hết cho 4 là năm nhuận.
    • Với các năm có tận cùng là 2 chữ số 0, nếu chia hết cho 400 thì đó là năm nhuận. Ngược lại không phải năm nhuận. Ví dụ: năm 1600, 2000,… là năm nhuận, năm 1700, 1900 không phải là năm nhuận.

    Năm nhuận tiếp theo trong dương lịch là 2020

    Tính năm nhuận âm lịch

    Theo âm lịch 3 năm sẽ có 1 năm nhuận và 19 năm sẽ có 2 năm nhuận chỉ cách nhau 2 năm. Do đó người ta quy ước thứ tự năm nhuận trong chu kì 19 năm là các năm thứ 3, 6, 9, 11, 14, 17, 19.

    Để tính năm nhuận trong âm lịch chúng ta cũng dựa vào quy ước này để tính bằng cách lấy năm dương lịch tương ứng chia cho 19. Nếu chia hết hoặc số dư là các số 3, 6, 9, 11, 14, 17 thì năm đó là năm nhuận.

    Tháng nhuận của âm lịch không lặp đi lặp lại như ngày nhuận của dương lịch và được các nhà làm lịch tính toán một cách thù hợp.

    Tháng nhuận của các năm sắp tới trong âm lịch:

    • Năm 2020 nhuận tháng 4
    • Năm 2023 nhuận tháng 2
    • Năm 2025 nhuận tháng 6
    • Năm 2028 nhuận tháng 5
    • Năm 2031 nhuận tháng 3
    Chức năng bình luận bị tắt ở Năm nhuận là gì? Tại sao lại có năm nhuận?
  • Chính xác mặt trời mọc hướng nào? Vì sao chu kỳ đó lặp đi lặp lại?

    Sự chuyển giao giữa ngày và đêm diễn ra liên tục từng phút từng giây, nếu được hỏi mặt trời mọc hướng nào chắc chắn rằng ai cũng sẽ trả lời “mặt trời mọc hướng Đông, lặn hướng Tây” nhưng như vậy liệu đã hoàn toàn chính xác?

    Mặt trời mọc hướng nào là chính xác?

    Thời xa xưa con người đã biết mặt trời mọc hướng đông và lặn hướng tây. Khi bị lạc mất phương hướng trong rừng sâu hoặc trên hoang mạc, hướng của mặt trời mọc và lặn được xem là la bàn để tìm đường hướng thoát khỏi đó.

    Tuy nhiên liệu có phải thật sự mặt trời mọc hướng đông và lặn ở hướng tây? Đây là câu hỏi không phải ai cũng nghĩ đến vì đó là kiến thức đã được học từ lớp vỡ lòng và mặc nhiên mọi người đều cho đó là chính xác.

    Dựa vào hướng của Mặt trời mọc và lặn để xác định phương hướng khi bị lạc

    Dựa vào hướng của Mặt trời mọc và lặn để xác định phương hướng khi bị lạc

    >>>>Click để khám phá bí ẩn các hành tinh trong hệ mặt trời

    Nếu đang đứng ở điểm Cực bắc thì bạn sẽ thấy mặt trời mọc từ hướng Nam và ở điểm Cực Nam thì sẽ thấy mặt trời mọc từ hướng Bắc. Đây chỉ là một ví dụ để cho thấy các xác định mặt trời mọc và lặn hướng nào hoàn toàn chỉ là tương đối. Vì không ai lại đi đứng ở điểm cực Bắc và điểm cực Nam để hỏi mặt trời mọc ở hướng nào cả.

    Tuy vậy thực tế vị trí mặt trời mọc trong năm cũng không hoàn toàn là Hướng Đông mà thay đổi theo chu kỳ Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí.

    Giải thích hiện tượng mặt trời mọc và lặn

    Để giải thích cho hiện tượng mặt trời mọc và lặn theo chu kỳ lặp đi lặp lại hàng năm, chúng ta cùng tìm hiểu về cách thức vận động và quỹ đạo của trái đất.

    Khi trái đất quay, góc nghiêng giữa mặt trời và mặt đất cũng lớn dần lên, vì vậy ta có cảm tưởng mặt trời mọc từ thấp lên cao. Cũng bởi vì trái đất quay về hướng đông, nên ta cũng thấy mặt trời mọc lên từ hướng đông.

    Sở dĩ xảy ra hiện tượng mặt trời mọc và lặn không đúng hướng như vậy là do trái đất tự quay từ Tây sang Đông quanh trục nghiêng so với mặt phẳng quỹ đạo và chuyển động theo quỹ đạo hình Elip xung quanh mặt trời. Vì thế vị trí Trái Đất so với mặt trời luôn thay đổi và lượng ánh sáng mỗi điểm trên Trái Đất cũng khác nhau theo mùa.

    Sự thay đổi thời gian giữa ngày và đêm vào các mùa trong năm

    Sự thay đổi thời gian giữa ngày và đêm vào các mùa trong năm

    >>>Xem thêm: Sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào?

    Câu nói: “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối” ý nghĩa của nó đó là mùa hè sẽ có ngày dài hơn đêm và mùa đông thì ngược lại.

    Một ngày luôn luôn có 24 tiếng, chỉ có sự thay đổi giữa ngày và đêm là khác nhau ở mỗi mùa.

    Hạ Chí (20 – 21/06) là ngày có thời gian ban ngày dài nhất trong năm. Sau Hạ Chí, ánh sáng mặt trời chiếu dịch dần xuống phía nam do đó ngày sẽ ngắn lại. Trước Hạ chí ngày dài hơn đêm nên mặt trời xuất hiện hơn và lặn muộn hơn. Do đó ta sẽ thấy mặt trời mọc hướng Đông Bắc và lặn ở hướng Tây Bắc.

    Thời gian mặt trời mọc và lặn vào tháng 5

    Thời gian mặt trời mọc và lặn vào tháng 5

    Tương tự, Đông Chí (20 – 21/12) thì ngược lại, đây là ngày có thời gian ban ngày ngắn nhất trong năm. Sau Đông chí ánh sáng mặt trời di chuyển dần lên phía Bắc, do đó trước Đông Chí ngày ngắn hơn đêm, mặt trời xuất hiện muộn hơn và lặn sớm hơn. Vì vậy mặt trời mọc chính xác là ở hướng Đông Nam và lặn ở Tây Nam.

    Thời gian mặt trời mọc và lặn trong ngày vào tháng 10

    Thời gian mặt trời mọc và lặn trong ngày vào tháng 10

    Tại đường xích đạo trong một năm sẽ có 2 ngày, khi đó thời gian ban ngày và ban đêm bằng nhau. Chính là vào Xuân Phân (21 – 22/03) và Thu Phân (23-24/09), khi đó mặt trời mới chính thức mọc hướng Đông, Lặn Hướng Tây.

    Chức năng bình luận bị tắt ở Chính xác mặt trời mọc hướng nào? Vì sao chu kỳ đó lặp đi lặp lại?
  • Khám phá vũ trụ: Các hành tinh trong hệ mặt trời

    Khám phá vũ trụ: Các hành tinh trong hệ mặt trời

    Các hành tinh trong hệ mặt trời chỉ là một phần rất bé của vũ trụ bao la rộng lớn, tuy nhiên trong đó ẩn chứa rất nhiều điều kỳ bí mà cho đến bây giờ con người vẫn chưa thể khám phá hết.

    Thứ tự các hành tinh trong hệ mặt trời

    Trước khi tìm hiểu thứ tự các hành tinh trong hệ mặt trời chúng ta cần hiểu rõ Hệ mặt trời là gì?

    Hệ mặt trời hay còn gọi là Thái dương hệ chính là hệ hành tinh có Mặt trời ở trung tâm và các thiên thể xoay quanh nằm trong phạm vi lực hấp dẫn của Mặt trời. Theo thông tin từ các nhà khoa học, Hệ mặt trời được hình thành từ sự suy sụp của một đám mây phân tử khổng lồ cách đây gần 4,6 tỷ năm.

    Năm 1930 Sao Diêm Vương được phát hiện từ đó nhân loại biết đến hệ mặt trời với 9 hành tinh. Tuy nhiên sau rất nhiều tranh cãi, đến năm 2006 Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (International Astronomical Union) đã đi đến thống nhất gọi Sao Diêm Vương là “hành tinh lùn” (Pluto) và loại nó ra khỏi danh sách các hành tinh trong hệ mặt trời.

    Sao diêm vương - ảnh chụp từ tàu vũ trụ

    Click ngay để biết chính xác mặt trời mọc hướng nào!

    Theo các bằng chứng mới nhất mà NASA cung cấp, khả năng xuất hiện của hành tinh thứ 9 là rất lớn, nó có kích thước gấp khoảng 10 lần trái đất và khối lượng hơn 5000 lần so với sao Diêm Vương.

    Thứ tự các hành tinh trong hệ mặt trời từ gần đến xa: Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa, Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và “hành tinh thứ 9”

    Nếu hành tinh thứ 9 xuất hiện thì nó sẽ được gọi là Diêm Vương tinh, Diêm Vương tinh thực sự đã bị loại ra khỏi danh sách các hành tinh trong hệ mặt trời vì độ nghiêng quá lớn và quỹ đạo có hình elip.

    Tên các hành tinh trong hệ mặt trời tiếng anh

    • Sao thủy: Mercry
    • Sao Kim: Venus
    • Trái Đất: Earth
    • Sao Hỏa: Mars
    • Sao Mộc: Jupiter
    • Sao Thổ: Saturn
    • Sao Thiên Vương: Uranus
    • Sao Hải Vương: Neptune

    Vị trí các hành tinh trong hệ mặt trời

    Nhóm hành tinh trong hệ mặt trời

    Mặt trời đóng vai trò trung tâm và là nguồn cung cấp năng lượng ánh sáng cho toàn bộ các hành tinh trong hệ mặt trời. Giống như một lò phản ứng hạt nhân, trên mặt trời liên tục xảy ra những phản ứng sinh nhiệt lan tỏa đến các hành tinh khác trong hệ. Trong quá trình phản ứng hạt nhân, mặt trời sinh ra năng lượng và tạo ra lực hấp dẫn.

    Trong hệ mặt trời các hành tinh được chia làm 3 nhóm:

    Nhóm các hành tinh trái đất (Terrestrial planets) gồm có 4 hành tinh gần mặt trời nhất là Sao Thủy, Sao Kim, Trái Đất, Sao Hỏa. Theo hình ảnh các hành tinh trong hệ mặt trời do NASA cung cấp, những hành tinh này có bề mặt toàn bộ là đá. Trong Thái dương hệ, Sao Diêm Vương cũng có bề mặt rắn nhưng không được liệt kê vào cùng nhóm các hành tinh trái đất.

    Nhóm các hành tinh kiểu sao mộc (Jovian planets) nằm bên ngoài gồm có 4 hành tinh: Sao Mộc, Sao Thổ, Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương. Các hành tinh này được chia vào nhóm các hành tinh kiểu Sao Mộc vì có kích thước rất lớn so với các hành tinh Trái Đất và có khí trong tự nhiên chứ không phải bề mặt đá, mặc dù một số hoặc toàn bộ chúng đều có thể có lõi rắn.

    Nhóm các hành tinh kiểu Sao Mộc

    >>>Xem thêm: Sự hình thành vũ trụ và hệ mặt trời diễn ra như thế nào?

    Trong nhóm các hành tinh kiểu Sao Mộc, có 2 hành tinh khí khổng lồ đó là Sao Mộc và Sao Thổ bên trong toàn bộ là khí. Ngoài cùng đó chính là 2 hành tinh nước đá khổng lồ là Sao Thiên Vương và Sao Hải Vương, chứa băng đá. Trên 4 hành tinh nhóm này nguyên tố chủ yếu là khí Heli và Hydro.

    Nhóm các hành tinh lùn

    Theo định nghĩa của Hiệp hội Thiên văn quốc tế (IAU) hành tinh lùn có các đặc điểm sau:

    • Không phải vệ tinh tự nhiên của một hành tinh hay các vật thể khác trong hệ mặt trời
    • Quỹ đạo quanh mặt trời
    • Khối lượng đủ lớn để trọng trường của nó thắng lực vật rắn, tạo nên hình dạng cân bằng thủy tĩnh (gần với hình cầu)
    • Những vật thể khác nằm trên quỹ đạo chưa được dọn sạch

    Các hành tinh thuộc nhóm các hành tinh lùn thường có kích thước nhỏ và quỹ đạo khác thường do phải chia sẻ không gian của mình với rất nhiều vật thể khác.

    Nhóm các hành tinh lùn

    Các hành tinh lùn trong Thái dương hệ bao gồm:

    • Sao Diêm Vương – Là hành tinh lùn lớn nhất trong hệ mặt trời bị loại khỏi danh sách hành tinh thực gây nhiều tranh cãi.
    • Eris – Là hành tinh lùn lớn thứ 2 trong Hệ mặt trời, Được phát hiện từ bức ảnh chụp vào năm 2003. Do đó trước đây còn có tên gọi là 2003 UB313
    • Makemake – Là hành tinh xếp thứ 3 về kích thước trong nhóm các hành tinh lùn, nhiệt độ trên bề mặt cực kỳ thấp.
    • Haumea – Là hành tinh có hình dáng rất đặc biệt với chiều dài gấp đôi chiều rộng tuy nhiên vẫn đảm bảo cân bằng thủy tĩnh
    • Sendna – Theo quan điểm của một số nhà khoa học, Sendna đảm bảo điều kiện của hành tinh lùn nhưng IAU chưa chính thức công nhận.
    • Ceres – Được phát hiện và xem là hành tinh năm 1801 sau đó được xem là tiểu hành tinh.
    Chức năng bình luận bị tắt ở Khám phá vũ trụ: Các hành tinh trong hệ mặt trời
  • Các chuyên gia chỉ cách chữa thoát vị đĩa đệm

    Theo nhiều nghiên cứu của các chuyên gia y tế hàng đầu thế giới, thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân chủ yếu chiếm tới 80% các trường hợp đau cột sống thắt lưng.

    Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm là gì?

    Bệnh có nguyên nhân từ vòng sợi bao quanh bị rách, nhân nhầy thoát ra ngoài khỏi vị trí giữa hai đốt sống, thường là về phía sau gây chèn ép tủy sống hoặc các rễ thần kinh.

    Theo đó, có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống, trong đó phải kể đến các nguyên nhân hàng đầu là các chấn thương cột sống, sau đó là các tư thế xấu trong lao động, hoạt động đời sống. Những chấn thương vào vùng cột sống như ngã ngồi đập mông xuống đất,… tác động trực tiếp vào vùng cột sống hoặc các tư thế như cúi, xoay người nhấc vật nặng sai tư thế. Đặc biệt, nhấc những vật nặng ở cách xa người là tình huống dễ gây ra thoát vị đĩa đệm. Sở dĩ như vậy vì lúc đó có một lực ép tác động nên các đốt sống và đĩa đệm với phân bố lực không đều, khe giữa hai đốt sống ở phía trước khép lại ép nhiều vào phần trước đĩa đệm trong khi ở phía sau khe lại mở rộng ra dẫn đến đẩy nhân nhày chui ra khỏi lỗ rách vòng sợi về phía sau, chui vào ống sống gây chèn ép rễ thần kinh hay tủy sống.

    Các chuyên gia chỉ cách chữa thoát vị đĩa đệm

    Các chuyên gia chỉ cách chữa thoát vị đĩa đệm

    >>>>Xem thêm: Tác dụng của Oxy già là gì?

    Những cách chữa thoát vị đĩa đệm

    Tùy theo tính chất tổn thương như vị trí, biến chứng cũng như mức độ ảnh hưởng tới khả năng vận động, lao động và sinh hoạt của người bệnh mà cân nhắc tới các biện pháp điều trị bảo tồn và điều trị can thiệp phẫu thuật. Điều trị bảo tồn bao gồm các biện pháp như, nghỉ ngơi, vật lý trị liệu xoa bóp,… tắm suối khoáng, đắp bùn; chiếu đèn hồng ngoại có các bước sóng ngắn, điện phân, đắp dầu paraphin,…

    Có thể dùng các biện pháp như tác động cột sống, kéo giãn cột sống trong để điều trị bệnh. Ở 1 vài tuần đầu tiên, khi tổn thương thoát vị đĩa đệm còn mới chưa bị xơ hóa, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo giãn cột sống bằng dụng cụ cũng có tác dụng tương tự, chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Mặc áo nẹp cột sống, tác dụng cố định tạm thời nhằm hạn chế các động tác lên vùng tổn thương, qua đó giảm lực tác động lên các đĩa đệm.

    Ngoài ra, còn biện pháp dùng thuốc như thuốc giảm đau paracetamol, giảm đau chống viêm không steroid như diclofenac, meloxicam; uống hoặc tiêm, bôi tại chỗ. Lưu ý, các thuốc trên dùng đường lưu thông toàn thân có thể ảnh hưởng tới dạ dày và các chức năng gan, thận… Các loại thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal được chỉ định trong trường hợp có co cứng cơ cạnh cột sống. Có thể bổ sung các thuốc bổ thần kinh như vitamin B1, B6, B12 cùng các thuốc giảm đau thần kinh như neurontin…

    Nhìn chung, thuốc giảm đau chống viêm loại steroid như prednisolon, dexamethason,… hấp thụ đường toàn thân vì thế có nhiều tác dụng phụ. Một số trường hợp hãn hữu bị đau nhiều không đáp ứng với các biện pháp trên, đặc biệt kèm phù tủy có thể dùng methylprednisolon đường tĩnh mạch liều cao, ngắn ngày, giảm liều nhanh nhưng phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và phải được theo dõi chặt chẽ các biến chứng.

    Phương pháp chữa bệnh thoát vị đĩa đệm

    Phương pháp chữa bệnh thoát vị đĩa đệm

    >>>>Xem thêm: Giải đáp băn khoăn uống nước mỗi ngày bao nhiêu là đủ

    Phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được chỉ định trong các trường hợp sau, thoát vị đĩa đệm gây hội chứng đuôi ngựa biểu hiện bí đại tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục. Ngoài ra, bệnh nhân  còn có thể bị liệt chi do đau quá mức, các thuốc giảm đau không hoặc rất ít tác dụng, sau khoảng nửa năm áp dụng các biện pháp điều trị nội khoa không đạt được kết quả.

    Phẫu thuật cũng là 1 cách nhằm giải phóng rễ thần kinh khỏi bị chèn ép, bao gồm các biện pháp, Kinh điển là mổ cắt cung sau lấy bỏ khối thoát vị, nhìn chung là can thiệp rộng, nhiều biến chứng về sau, đặc biệt là tái phát đau do vết mổ cũ xơ dính. Hiện nay, các kỹ thuật được cải tiến hơn như phẫu thuật mở nhỏ, cắt bỏ đĩa đệm qua da; mổ nội soi lấy nhân thoát vị, mổ nội soi hút nhân nhầy trong đĩa đệm… Trường hợp tổn thương có trượt đốt sống phối hợp gây mất vững có thể cố định cột sống bằng khung kim loại.

    Chức năng bình luận bị tắt ở Các chuyên gia chỉ cách chữa thoát vị đĩa đệm